• Trang chủ
  • Tử Vi
  • Âm dương ngũ hành, thiên can địa chi và bản mệnh trong tử vi – Học tử vi P2
50 lượt xem

Âm dương ngũ hành, thiên can địa chi và bản mệnh trong tử vi – Học tử vi P2

Chào mừng quý đạo hữu đến với tài liệu học tử vi cùng BinhGiaTrang.com. Trong bài viết này mời quý đạo hữu cùng nghiệm lý về Âm dương ngũ hành, thiên can, địa chi và bản mệnh trong tử vi. Để nghiệm lý được lá số tử vi thì cần hiểu rõ về đặc tính Âm Dương Ngũ Hành, Thiên Can Địa Chi và bản mệnh trong tử vi. Giờ thì bắt đầu thôi.

Trước khi bắt đầu bài viết này nếu quý đạo hữu đang tự học tử vi mà không biết bắt đầu từ đâu thì nên xem lại bài viết này để hiểu hơn nhé: Học Tử Vi Từ cơ bản tới nâng cao

Với kinh nghiệm học và nghiên cứu tử vi của Bình An thì chia sẻ đôi chút cho quý đạo hữu khi mới bắt đầu nghiên cứu bộ môn này. Âm dương ngũ hành hay thiên can địa chi bản mệnh là kiến thức để bắt đầu cho môn tử vi. Do vậy quý đạo hữu không nên coi nhẹ. Bởi đây là nền tảng cơ bản để an sao cho đến luận giải lá số tử vi sau này. Các yếu tố này gắn liền với mọi cung hay sao trên lá số tử vi sau này. Do vậy hãy nghiêm túc với nó một cách chỉn chu nhất nhé. Bởi nếu bỏ qua quý đạo hữu sẽ rất dễ luận đoán sai sau này.

Âm Dương Trong Tử Vi

  • Âm Dương sinh Ngũ Hành, Ngũ Hành sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng lại sinh Bát Quái từ đó sinh ra vạn vật. Nguyên tắc Âm Dương ngũ hành chính là cái gốc của vạn vật. Tử vi lý số là môn huyền học cũng không thể xa rời nguyên lý Âm Dương vậy.
  • Âm là tĩnh, âm đại diện cho những thứ bất động, cố định. Dương là động, Dương là dịch chuyển, là thay đổi. Âm là đất thì Dương chính là trời. Có Âm thì tất phải có Dương, như vậy mới là hòa hợp, là đủ đầy.
  • Điểm đầu tiên chúng ta đề cập tới là những chi tiết như: Chiều Đại hạn thuận nghịch của tuổi Dương Nam, Âm Nữ và Âm Nam, Dương Nữ cũng như sao Dương an chiều chiều nghịch, sao Âm an chiều thuận. Hoặc các thế Lưỡng Nghi của các bộ chính tinh, cũng có Âm có Dương, để từ đó phát sinh ra các chi phái Tứ Tượng, Bát Quái. Ấy là cổ nhân đã áp dụng luật Âm bổ Dương, Dương bổ Âm của Dịch học, để chu trình “Dương trung hữu Âm”, “Âm trung hữu Dương” luôn luôn toàn vẹn.
  • Luật này được thu gọn trong một vòng tròn có hai phần đen, trắng (tượng trưng Nhật, Nguyệt) ngăn cách bởi một đường cong hình chữ S. Trong mỗi phần lại có một vòng tròn nhỏ, đúng hơn là một chấm nhỏ tương phản màu sắc.
  • Phạm vi áp dụng luật Âm Dương không phải chỉ có thế, nó còn chi phối rất nhiều phương diện: Từ vai trò Âm Dương, Tuần Triệt trong lối nặng nhẹ, cho đến cung trước mặt, sau lưng, hoặc đắc tính miếu hãm của một vài sao cũng như chi phổi về phương diện sức khoẻ…
Học tử vi online cùng Bình An

Ngũ Hành Trong Tử Vi

Ngũ hành bao gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Trong đó:
Kim: là vàng hay các kim loại;
Mộc: là gỗ hay các thảo mộc;
Thủy: là nước hay các chất lỏng;
Hỏa: là lửa hay khí nóng;
Thổ: là đất đá.
Ngũ hành tượng trưng cho những vật chất cấu thành vũ trụ, mỗi hành lại mang trong mình những tính chất, đặc điểm, phương vị nhất định.
Mộc: Mùa Xuân, màu xanh, hướng Đông
Hỏa: Màu Hè, màu đỏ, hướng Nam
Kim: Mùa Thu, màu xám, hướng Tây
Thủy: Mùa Đông, màu đen, hướng Bắc
Thổ: Tháng cuối của 4 mùa, màu vàng (hoàng thổ) , ở Trung Tâm.
Trong Ngũ hành lại tự tương sinh, tương khắc. Bổ sung hoặc triệt tiêu lẫn nhau. Cũng như vạn vật có hỗ trợ nhau, tương trợ lẫn nhau nhưng cũng có hình hại nhau, tác động xấu cho nhau.
  • Ngũ hành Tương Sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Thổ sinh Kim.
    Hiểu một cách nôm na thì: Kim bị nóng chảy biến thành Thủy, Thủy mang đến cho cây cối tốt tươi, vậy là thủy sinh Mộc, Mộc là chất dẫn để cho hỏa phát sáng, lửa cháy được cần phải có củi đốt đó là lẽ đương nhiên để Mộc sinh ra Hỏa. Hỏa thiêu đốt tất cả hóa thành tro, tro chính là thổ. Thổ lại là mẹ của Kim, thổ sinh ra kim, Kim lúc nào cũng được hình thành trong thổ. Đó chính là lý lẽ của ngũ hành tương sinh vậy.
  • Ngũ hành Tương Khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Âm dương Ngũ hành trong Thiên Can – Địa Chi

Sáu mươi hoa giáp (lục thập hoa giáp) chính là vòng tròn 60 năm kết hợp giữa thiên can và địa chi trong đó phân định âm dương ngũ hành rõ ràng.
Việc phân định âm dương rõ ràng trong bước đầu đã giúp chúng ta có thể dễ dàng nhớ được các khái niệm về Âm Nam, Dương Nam, Âm Nữ, Dương Nữ rất cần thiết trong quá trình An Sao và luận đoán tử vi.

Tính âm dương, ngũ hành trong Thiên Can

Tính Âm Dương của các Can

  • Các Can Dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm
  • Các Can Âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý
Tính chất âm dương: cùng cực thì đẩy nhau, khác cực thì hút nhau. Mức độ “hút” và “đẩy” nhau còn phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của các can mang theo ngũ hành. Ví dụ: Giáp Mộc dương, và Ất mộc âm sẽ hút nhau, hỗ trợ cho nhau khiến cho hành mộc vượng hơn. Giáp Mộc dương và Canh dương Kim sẽ khắc nhau.

Thuộc tính Ngũ hành, phương vị của các Can:

  • Giáp – Ất: Hành Mộc, phương Đông
  • Bính – Đinh: Hành Hỏa, Phương Nam
  • Mậu – Kỷ: Hành Thổ, Trung Tâm
  • Canh – Tân: Hành Kim,  Phương Tây
  • Nhâm – Quý: Hành Thủy, Phương Bắc

Phân định Hợp – Phá của Thiên Can:

  • Giáp Hợp Kỷ, Giáp Phá Mậu, Kỷ phá Quý
  • Ất Hợp Canh, Ất phá Kỷ, Canh phá Giáp
  • Bính Hợp Tân, Bính phá Canh, Tân phá Ất
  • Đinh hợp Nhâm, Đinh phá Tân, Nhâm phá Bính
  • Mậu hợp Quý, Mậu phá Nhâm, Quý phá Đinh
  • Tính âm dương ngũ hành trong Địa Chi

Không những Thiên Can mang trong mình đặc tính âm dương ngũ hành mà Địa Chi cũng vậy. Địa chi cũng phân thành âm dương.

Tính Âm – Dương của Địa Chi:

Địa Chi Dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
Địa Chi Âm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi

Thuộc tính ngũ hành của Địa Chi:

  • Dần, Mão: hành Mộc, phương Đông
  • Tỵ, Ngọ: hành Hỏa, Phương Nam
  • Thân, Dậu: hành Kim, Phương Tây
  • Hợi, Tý: hành Thủy, Phương Bắc
  • Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: hành Thổ, vị trí Trung Tâm

Tam hợp và hành tam hợp của địa chi:

  • Dần, Ngọ, Tuất: Dần (Mộc) -> Ngọ (Hỏa) -> Tuất (Thổ)
  • Tỵ, Dậu, Sửu:  Tỵ (Hỏa) -> Dậu (Kim) -> Sửu (Thổ)
  • Thân, Tý, Thìn: Thân (Kim) -> Tý (Thủy) -> Thìn (Thổ)
  • Hợi, Mão, Mùi: Hợi (Thủy) -> Mão (Mộc) -> Mùi (Thổ)
Nhìn trên bảng tam hợp trên ta có thể thấy:
Trong mỗi tam hợp, có chữ đầu, chữ giữa và chữ cuối. Chữ đầu sinh ra cung giữa, cung giữa là cung chính (chính Hành và chính Phương), cung dưới bao giờ cũng là cung Thổ, còn gọi là cung Mộ, vì mọi hành đều trở về Thổ. Vậy chúng ta có các cặp:
  • Tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
  • Tứ tuyệt (chính): Tý, Ngọ, Mão, Dậu
  • Tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
Mỗi tam hợp có một hành, đó là hành của cung trong tứ chính. Như vậy:
  • Dần, Ngọ, Tuất: hành Hỏa
  • Tỵ, Dậu, Sửu: hành Kim
  • Thân, Tý, Thìn: hành Thủy
  • Hợi, Mão, Mùi: hành Mộc
Khi quý đạo hữu luận giải lá số tử vi, khi xét một cung, phải xét cả 2 cung kia trong tam hợp (gọi là cung tam hợp chiếu) coi cả 3 cung như nhau. Như Mạng đóng ở Tuất, thì phải xét cả 2 cung Dần và Ngọ cũng quan trọng như Tuất.

 Cung Nhị hợp

  • Sửu –> Tý (Tam họp Kim –> Tam hợp Thủy )
  • Dậu –> Thìn (Tam họp Kim –> Tam hợp Thủy )
  • Tỵ –> Thân (Tam họp Kim –> Tam hợp Thủy )
  • Mùi –> Ngọ (Tam họp Mộc –> Tam hợp Hỏa)
  • Hợi –> Dần (Tam họp Mộc –> Tam hợp Hỏa )
  • Mão –> Tuất (Tam họp Mộc –> Tam hợp Hỏa)
– Vậy nhị hợp chỉ có một chiều; chiều ngược lại không đúng. Thí dụ: Sửu nhị hợp cho Tý, nhưng Tý không nhị hợp cho Sửu. Ta nhận xét thêm là trong một cặp nhị hợp, chiều nhị hợp do từ cung Âm sang cung Dương, vậy là cung Âm sinh xuất, cung Dương sinh nhập.
– Trong khi luận đoán lá số tử vi, cung nào bị sinh xuất thì không kể đến nhị hợp. Cung nào được sinh nhập mới được kể đến nhị hợp. Thí dụ: Mạng ở Tuất, Tuất được Mão sinh nhập. Vậy ta xem cả Sao ở Mão.

Các cung Nhị xung (cung xung chiếu)

  • Tý > < Ngọ (Tam họp Thủy > < Tam hợp Hỏa)
  • Sưu > < Mùi (Tam hợp Kim > < Tam hợp Mộc)
  • Dần > < Thân (Tam họp Thủy > < Tam hợp Hỏa)
  • Mão > <Dậu (Tam hợp Kim > < Tam hợp Mộc)
  • Thìn > < Tuất (Tam họp Thủy > < Tam hợp Hỏa)
  • Tỵ > < Hợi (Tam hợp Kim > < Tam hợp Mộc)
Lưu ý quan trọng để áp dụng luận giải tử vi sau này:
  • Tý > < Ngọ: Tý khắc xuất, Ngọ bị khắc nhập
  • Sửu  > < Mùi: Sửu khắc xuất, Mùi bị khắc nhập
  • Dần > < Thân: Thân khắc xuất, Dần bị khắc nhập
  • Mão > < Dậu: Dậu khắc xuất, Mão khắc nhập
  • Thìn > < Tuất: Thìn khắc xuất, Tuất bị khắc nhập
  • Tỵ > < Hợi: Tỵ khắc xuất, Hợi bị khắc nhập
Tóm lại, khi xem cung nào phải ĐỒNG THỜI xem cả cung xung chiếu, 2 cung tam chiếu và cung nhị hợp, tức là phải xem 5 cung cùng một lúc để cân nhắc chung.
Thông thường người ta xem 5 cung có tầm quan trọng ngang nhau. Nhưng có người tinh vi hơn muốn đánh giá 5 cung đó theo ưu tiên quan trọng khác nhau. Theo quan điểm này thì:
  • Quan trọng nhất là cung chính (ví dụ là Tuất)
  • Quan trọng nhì là cung xung chiếu (Thìn)
  • Quan trọng ba là 2 cung tam chiếu (Dần và Ngọ)
  • Quan trọng bốn là cung nhị hợp (Mão)
Sự đánh giá này xét qua cũng hợp lý vì bao giờ sao tọa thủ tại cung chính cũng nặng cân hơn cả, rồi đến các sao tọa thủ tại cung trực chiếu, rồi đến tam chiếu và sau cùng là nhị hợp.
Sự đánh giá này phân biệt được ảnh hưởng trực tiếp và các ảnh hưởng gián tiếp ngõ hầu cân nhắc sự nặng nhẹ của biến cố, giúp cho việc luận đoán tinh vi hơn, cụ thể hơn, có thể chính xác hơn, đầy đủ hơn. Trái lại, nếu gọp chung 5 cung lại coi nhưng ngang giữa nhau thì chỉ có được ý niệm chung về biến cố, không suy diễn được chi tiết của biến cố (nguyên nhân, hậu quả, hình thái, tính chất…) khiến cho sự lượng định, thẩm định không rõ ràng.

Bản mệnh trong tử vi

Bản mệnh là yếu tố quan trọng trong tử vi, bản mệnh có tác động như thế nào, chắc chắn những người am hiểu về tử vi số mệnh đều nắm rõ. Vậy, muốn tìm bản mệnh nhanh để phục vụ quá trình lập thành và luận giải một lá số phải làm thế nào?
Không phải lúc nào chúng ta cũng có đủ điều kiện và phương tiện để tra cứu, xem xét bản mệnh một cách nhanh chóng và rõ ràng. Vì vậy, một phương pháp tìm bản mệnh nhanh và đơn giản là điều cần thiết. Mà tôi thiết nghĩ là những người nghiên cứu đến môn huyền học đều cần phải học thuộc.

Cách tìm Bản Mệnh nhanh

Khi đã rõ tuổi của hàng Can, Chi, muốn tìm xem Bản mệnh thuộc Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ xem bảng sau:
Việc xác định Ngũ hành bản Mệnh trong Tử Vi rất quan trong. Dựa vào Bản Mệnh để xem xét xem ta thuộc bố cục của sao, bộ sao nào từ đó có định hướng để xem xét luận giải.
Để ghi nhơ được Bảng tổng hợp trên rất khó khăn. Đa phần cần bảng để tra cứu. Tuy nhiên không phải khi nào chúng ta cũng có Bảng và mang theo để tra cứu. Do đó cần có phương pháp ghi nhớ mỗi khi cần thiết và tiện cho việc ứng dụng, nghiên cứu, xem xét. Sau đây xin giới thiệu một phương pháp tìm Bản Mệnh.
Để hiểu được trước hết cần ghi nhớ được vị trí của 12 Địa Chi qua hai phương pháp an trên giấy và trên bàn tay như sau:

Cách an thiên can địa chi bằng bàn tay trong tử vi

Vị trí 12 cung và vị trí Thập nhị chi trên Địa Bàn – Hình 1

Xác định Thiên Can bằng tay 

Cách tính bản mệnh bằng tay trong tử vi – Hình 2

Định lệ Thiên Can, Địa Chi trên lòng bàn tay Hình 2

  • Cung Tí đọc Giáp – Ất.
  • Cung Sửu đọc Bính – Đinh.
  • Cung Dần đọc Mậu – Kỷ.
  • Cung Mão đọc Canh – Tân.
  • Cung Thìn đọc Nhâm – Quý.

Cách xác định địa chi trong lòng bàn tay

Xem hình 2

  • Cung Tí đọc Tí – Sửu.
  • Cung Thìn đọc Dần – Mão.
  • Cung Mão đọc Thìn – Tị.
  • Cung Tí đọc Ngọ – Mùi.
  • Cung Thìn đọc Thân – Dậu.
  • Cung Mão đọc Tuất – Hợi.
Lưu ý: Địa chi ở đây được an ngược chiều kim đồng hồ từ Tý đến Thìn rồi Mão và lập lại chu kỳ trên cho hết 12 Địa chi.

Xác định Ngũ Hành trong lòng bàn tay

Từ cung Địa chi (địa chi của lá số cần xác định) này đọc thuận theo chiều kim đồng hồ năm cung đó các Ngũ hành là Kim – Thủy – Hỏa – Thổ – Mộc gặp Thiên Can (của tuổi cần xác định) ở đâu lấy Ngũ hành đó làm Ngũ hành của Hoa giáp.
Ví dụ 1: Xác định Bản Mệnh của tuổi Nhâm Tuất;
Theo bước 1, “Hình 2” Can Nhâm thuộc Cung Thìn
Theo bước 2, “Hình 2” Chi Tuất thuộc cung Mão.
Theo bước 3, tại vị trí Chi Tuất thuộc Mão (Hình 2) kể là Thủy đếm thuân theo Thiên Can (Hình 1-2) đến cung Thìn thuộc Nhâm Quý. Do vậy Nhâm Tuất thuộc Thủy Mệnh.
Ví dụ 2: Xác định Bản Mệnh của tuổi Bính Dần;
  • Theo bước 1, “Hình 2” Can Bính thuộc Cung Sửu
  • Theo bước 2, “Hình 2” Chi Dần thuộc cung Thìn.
  • Theo bước 3, tại vị trí Chi Dần thuộc Sửu (Hình 2) kể là Thủy đếm thuân theo Thiên Can (Hình 2) đến cung Sửu thuộc Bính Đinh. Do vậy Bính Dần thuộc Hỏa Mệnh.

Cách Xác định Can Chi khi biết số năm

Để thực hiện phép xác định này ta cần ghi nhớ một số nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Ghi nhớ các vị trí đinh danh của Địa Chi trên Địa bàn (Hình 1-1);
Nguyên tắc 2: Được thực hiên trong chu kỳ của 100 (một thế kỷ) tính từ năm đầu tiên: 100, 200, 300, …1900,…2000,…3000,…;
Nguyên tắc 3: Ghi nhớ 09 bội số của 12 trong 100 năm bao gồm: 0, 12, 24, 36, 48, 60, 72, 84, 96;
Nguyên tắc 4: Ghi nhớ các số cuối của năm tương ứng với: 0-Canh, 1-Tân, 2-Nhâm, 3-Quý, 4-Giáp, 5-Ất, 6-Bính, 7-Đinh, 8-Mậu, 9-Kỷ.
Các bược thực hiện
Bước 1: Giữ lại hai số cuối của năm, các số còn lại thực hiện phép cồng dồn với nhau sao cho kết quả có giá trị nhỏ hơn 10.
Bước 2: Kết quả của “Bước 1” đem chia cho 3 nếu:
– Kết quả không dư: khởi tại cung Thân;
– Kết quả dư 1: khởi tại cung Tý
– Kết quả dư 2: khởi tại cung Thìn.
Bước 3: Từ kết quả của “Bước 2” dùng hai số cuối của năm kết hợp với các “Nguyên tắc 1, 3, 4” để thực hiện phép tìm Can Chi của năm.
Khi áp dụng Bước 3 cần lưu ý: sử dụng bội số của 12 (Nguyên tắc 3) có giá trị gần nhất với hai số cuối của năm cần tìm. Từ cung khởi “Bước 3” đếm tiến hay lùi đến năm cần tìm để xác định Địa Chi kết hợp với Nguyên tắc 4 để xác định Thiên Can.
Ví dụ 1: Xác định Thiên Can, Địa Chi của năm 2012
Bước 1: giữ lại hai số cuối (12) sử dụng các số còn lại (20) để thực hiện phép tính công dồn: 20=2+0=2;
Bước 2: Kết quả của “Bược 1”(2) đem chia cho 3, ta được kết quả: 2:3=0,6 dư 2 do vậy cung khởi là cung Thìn.
Theo “Nguyên tắc 3” thì 12 là cung Thìn, theo “Nguyên tắc 4” số cuối cung của năm là 2 nên là “Nhâm” do vậy:
Năm 2012 là năm Nhâm Thìn.
Ví dụ 2: Xác định Thiên Can, Địa Chi của năm 39287
Bước 1: giữ lại hai số cuối (87) sử dụng các số còn lại (392) để thực hiện phép tính công dồn: 392=3+9+2=14=1+4=5;
Bước 2: Kết quả của “Bước 1”(2) đem chia cho 3, ta được kết quả: 5:3=1 dư 2 do vậy cung khởi là cung Thìn.
Theo “Nguyên tắc 3” thì 87 có giá trị gần với bội số 84 của 12 nên từ cung Tý kể là Tý đếm lùi 4 cung kể cả cung Tý ta có cung cần xác định là cung Dậu, theo “Nguyên tắc 4” số cuối cung của năm là 7 nên là “Đinh” do vậy:
Năm 39287 là năm Đinh Mùi.
Lý thuyết âm dương ngũ hành, thiên can địa chi, bản mệnh được áp dụng rất rộng dãi trong môn tử vi và cả các môn huyền học khác. Do vậy quý đạo hữu cần rèn luyện thực nghiệm nhiều lý thuyết này để thông hiểu nó phục vụ việc luận giải sau này sẽ chính xác hơn.
Giờ mời quý đạo hữu tiếp tục phần tiếp theo trong seri học tử vi cùng Bình An nhé.
Bình An: người nghiên cứu tử vi việt nam