47 lượt xem

Tổng hợp các Thuật ngữ tử vi – Học tử vi P1

Tổng hợp các thuật ngữ trong tử vi. Bài viết được Bình An tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn. Bài viết biên tập nhằm mục đích phục vụ các bạn tự học tử vi, hoặc đang tìm hiểu về tử vi. Các cao nhân vui lòng bỏ qua. Giờ thì cùng Bình An tìm hiểu về các thuật ngữ trong lá số tử vi nhé.

Với các thuật ngữ cơ bản này ở góc độ người mới tìm hiểu về tử vi thì quý đạo hữu nên đọc để hiểu nó trước khi đi vào các kiến thức tử vi chuyên sâu hơn. Dưới đây là các thuật ngữ tử vi cơ bản, bình an sẽ update liên tục nếu thuật ngữ nào còn thiếu mà đạo hữu phát hiện ra vui lòng comment phía dưới cho Bình An biết với nhé.
Nếu quý đạo hữu chưa biết bắt đầu học tử vi từ đâu thì có thể xem lại bài viết Bình An đã liệt kê học tử vi từ cơ bản tới nâng cao cho người mới bắt đầu như thế nào: Học Tử Vi

Lá số

Lá số là dữ liệu các dữ liệu năm, tháng, ngày, giờ sinh và tên của người xem tử vi. Lá số là thứ thường dùng để an sao, dùng để luận giải số mệnh qua môn tử vi. Lá số thường dùng là giấy, bảng hoặc 1 thiết bị thể hiện được các thông tin của 1 lá số tử vi.
Lá số có hai phần:
Ðịa bàn tức 12 cung xung quanh.
Thiên bàn tức cung lớn ở giữa.
Trên Thiên bàn và Ðịa bàn ngoài các sao còn ghi Can Chi và Ngũ hành.
Các thuật ngữ trong lá số tử vi – Học tử vi

Năm, tháng, ngày, giờ sinh

Giờ, ngày, tháng, năm trong lá số tử vi được tính theo âm lịch. Hiện nay việc lập lá số đã được đơn giản hơn rất nhiều. Đạo hữu chỉ cần nhập giờ, ngày, tháng, năm sinh theo cả âm và dương lịch là có được 1 lá số.

Các sao

Các sao còn gọi là Tinh, là Diệu, là Ðẩu. Thi dụ: Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh, Nam đẩu tinh, Bắc đẩu tinh là các sao phương Nam và phương Bắc. Các sao này không phải là sao trên trời mà là các danh xưng nói lên các ý nghĩa về phúc, họa, giầu, nghèo, sang, hèn, và các hoàn cảnh con người kinh qua trong suốt cuộc đời.

Các chòm sao trên được chia theo bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc theo Hà đồ và Âm Dương:

Các sao trong tử vi theo tiên sinh Trần Ðoàn dùng trong khoa Tử vi có khoảng 128 vị sao. Nhưng để an trong các lá số nhưng chỉ có 110 sao là thông dụng thôi. Các sao Trần Ðoàn dùng chỉ có tính cách tượng trưng không phải là các sao ta thấy trên bầu trời hàng đêm.
Cách phân loại các sao cũng khác nhau, nhưng đại thể thì chia ra chính tinh, trung tinh, phụ tinh, phúc tinh, hung tinh, sát tinh, tài tinh. Gọi cách nào cho tới nay thì tùy theo ý thích của từng người.
Thuật ngữ tử vi chi tiết nhất cho người bắt đầu học tử vi

Âm Dương

Phần này khá quan trọng khi luận giải chi tiết một lá số. Quý đạo hữu nên đọc kỹ, ngẫm, và hiểu sau đó áp dụng trong luận giải sau này. Nếu những lần luận giải ứng nghiệm hay không thì đạo hữu đọc lại phần này.

  • Âm dương là hai cực mâu thuẫn, đấu tranh, tương phản nhau, nhưng lại nương tựa vào nhau. Không có gì hoàn toàn Dương hay hoàn toàn Âm. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm đẩy Âm, Dương đẩy Dương, Âm hấy dẫn Dương, Dương thu hút Âm.
  • Dương giáng, Âm thăng, những gì Dương thì dáng xuống, những gì Âm thì thăng lên. Qui luật Dương giáng Âm thăng có ý nghĩa to lớn trong triết lý cuộc sống. Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy. Khi Âm tiêu tán thì Dương xuất hiện, lúc Dương đạt cực thịnh thì Âm sinh ra.
  • Nói tóm lại, Âm Dương là khái niệm về hai cái đối nghịch trên thế gian và cuộc sống ngày như ngày và đêm, nóng và lạnh, cao và thấp, vui và buồn, mạnh và yếu, thịnh và suy, phúc và họa. Âm dương luôn luôn cọ sát, đun đẩy, chờ đợi nhau để sinh ra sự sống, như hình ảnh cái bễ lò rèn, ống bễ trên này ép xuống thì ống bễ bên kia đẩy lên, lên xuống liên tục tạo ra sức thổi làm than cháy đỏ. Phúc họa nằm sẵn trong nhau, mạnh yếu chỉ là tương đối, thịnh suy chỉ là giai đoạn… tất cả chỉ xoay quanh nhịp biến đổi tuần hoàn của Âm Dương mà thôi.

Âm Dương thuận lý: Đó là trường hợp tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Âm. Việc thuận lý này là lợi điểm đầu tiên của đương số để độ số được gia tăng.
Âm Dương nghịch lý: Đó là trường hợp tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Âm. Sự nghịch lý này chính là một dấu hiệu trục trặc, bất lợi đầu tiên của lá số.

Ngũ hành

Ngũ hành tương sinh: Đó là sự tương sinh giữa Cục và Mệnh. Có thể Cục sinh Mệnh, có thể Mệnh sinh Cục nhưng tốt nhất là trường hợp Cục sinh Mệnh. Hoặc sự tương sinh giữa hành bản Mệnh với cung an Mệnh, giữa cung an Mệnh với sao tọa thủ, giữa bản Mệnh với sao tọa thủ… Tương tự, khi xem các cung khác, chẳng hạn như cung Quan Lộc, Thiên Di… phải cân nhắc kỹ mối tương quan Ngũ hành (sinh, khắc, bình hòa) của sao với cung, cung với bản Mệnh…
Ngũ hành tương khắc: Đó là trường hợp Cục và Mệnh khắc nhau. Có thể Cục khắc Mệnh, có thể Mệnh khắc Cục. Xấu nhất là trường hợp Cục khắc Mệnh (Mệnh bị thiệt thòi lớn), xấu ít hơn là Mệnh khắc Cục (Mệnh đỡ hao). Hoặc sự tương khắc giữa Mệnh với sao, cung an Mệnh với sao… Tóm lại, nếu xem ở cung nào thì xét kỹ về sự tương khắc của cung đó chứ không hẳn chỉ xét tương sinh, tương khắc của Mệnh, Cục, Sao và cung an Mệnh, an Thân.

Ngoài ra Khái niệm Ngũ Hành có sau khái niệm Âm Dương.

Con người thời bán khai phải vật lộn với thiên nhiên để giành sự sống nên đã tìm nên cái nguyên lý căn bản cấu tạo nên sự vật để tìm cách thống trị thiên nhiên.
Họ tin rằng năm yếu tố chính tạo nên sự vật là: Kim (sắt), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) và đặt tên là Ngũ hành.
Mỗi cung của địa bàn có một hành.
Các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: hành Thổ.
Các cung Thân, Dậu: hành Kim.
Các cung Dần, Mão: hành Thủy.
Các cung Tỵ, Ngọ: hành Hỏa.
Cung có hành riêng, Mệnh có hành riêng.
Tùy theo năm sinh ta tính được Mệnh thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, hay Thổ.
Ðể ngắn gọn ta gọi hành của Mệnh là Mệnh.
Cục cũng có hành của Cục. Khi nói hành của cục là ý nói cục thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ. Ðể ngắn gọn, ta gọi hành của Cục là Cục.
Ngũ hành có thể tương sinh như: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc…
Ngũ hành có thể tương khắc như: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Nếu ta coi ngũ hành như năm cánh sao của một ngôi sao, ta có thứ tự sau đây không thay đổi:
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy, ta thấy rõ những hành nào liền nhau thì tương sinh, còn những hành nào cách nhau thì tương khắc.

Mệnh

Hay là số phận tức là những gì trời cho ta khi ta chào đời. Có thuyết nói Mệnh là Quả của cái
Nhân ta đã gieo từ nhiều kiếp trước.
Mệnh là vùng là vùng đất ta rơi vào lúc lọt lòng mẹ. Vùng đất này săn sóc ta, nuôi nấng ta, tốthay xấu, tùy theo những gì trời đã ban cho ta tượng trưng bởi các sao, đặc biệt là chính tinh.
Mệnh là nơi bắt đầu xác định đương số tính cách, sướng khổ như thế nào qua chính tinh và phụ tinh.

Thân

Là cách ứng xử của ta trong cuộc đời để hưởng phú quí hay chịu thống khổ của kiếp nhân sinh.Thân là Ta, là hành động của ta trước cái số phận trời đã an bài.
Có người nói Mệnh ảnh hưởng con người từ nhỏ đến 30 tuổi còn ngoài 30 thì xem ở thân.Nói vậy không đúng hẳn vì ở con người, cái Mệnh phải luôn luôn đi đôi với cái Thân.
Mệnh suy Thân vượng hay Mệnh vượng Thân suy đều không tốt, phải có Thân Mệnh đều tốt thì mới đẹp cả về tinh thần và vật chất được. Nếu trong hai mà có một xấu thì cả hai cùng xấu.

Cách

Khi các tinh đẩu kết hợp lại với nhau làm thành một bộ sao thì gọi là cách. (Riêng với phụ tinh thì có người gọi là cách, có người gọi là cục.)
Với chính tinh tử vi, có 6 cách sau:
– Tử, Phủ, Vũ, Tướng
– Sát, Phá, Liêm, Tham
– Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương
– Cự, Nhật
– Nhật, Nguyệt
– Vô chính diệu (không có chính tinh tọa thủ)
Thường thì người ta cho cách Tử, Phủ, Vũ, Tướng là đẹp nhất, còn cách vô chính diệu là xấu nhất, nhưng thật ra 6 cách trên đều tốt đẹp như nhau nếu chúng được thập toàn. Để được thập toàn thì phải hội đủ các sao để tạo thành cách và các sao đều phải đắc địa. Nếu sao nào đó hãm địa cần phải có Tuần, Triệt làm cho sáng lại, tuy nhiên cũng không thể toàn mỹ được.
Trường hợp Vô chính diệu, để thập toàn phải đáp ứng một số điều kiện sau:
– Tuần, Triệt án ngữ tại bản cung
– Hội đủ 4 hoặc chí ít là 3 sao không: Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không.
– Nhật, Nguyệt sáng sủa hội chiếu
Với các phụ tinh thì sự kết hợp của các sao tạo thành bộ thì cơ bản thành các cách: Phú cách (giàu có), Quý cách (sang trọng), Thọ cách (sống lâu), bần tiện cách (nghèo hèn), Tạp cách (xấu nhất)
Tuy nhiên, các cách của phụ tinh trong tử vi chỉ có giá trị tốt đẹp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
– Đầy đủ: Hội tụ đầy đủ các sao để tạo thành cách.
Đắc địa: Các sao đều phải đắc địa
Đông đảo: Hội nhiều cách hay về bản cung
Thuần tuý: Các cách của phụ tinh phải phù hợp với các cách của chính tinh.

Cục

Cục khác với Mệnh. Cục là môi trường xã hội ta sống từ buổi lọt lòng.Cục có hành của cục như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cục Kim mang số 4 gọi là Kim Tứ Cục, cục Mộc mang số 3, cục Hỏa mang số 6, cục Thủy mang số 2, cục Hỏa mang số 5. Theo quan niệm xưa, người ta canh cứ vào Ngũ hành để đặt tên Cục. Mỗi Cục chỉ là một con sốcủa Ngũ hành như ta thấy ở trên. Hơn nữa Cục: Là yếu tố ghi ở giữa khoang lá số dùng để cứu xét tương quan giữa Cục và bản Mệnh, giữa Cục và cung Thân.

Miếu địa

Là các sao được đánh dấu chữ M trong dấu ngoặc sau tên sao. Mỗi sao phải cần đứng tại vị trí của mình thì mới phát huy sức ảnh hưởng vào số kiếp của con người, làm cho cuộc sống của đương số tốt đẹp may mắn hơn. Trong những trường hợp đó gọi là miếu địa. Tuy nhiên, cũng thường thấy sách tử vi dùng các từ như đắc địa, vượng địa để diễn đạt sự đúng chỗ của các sao nhưng 2 trường hợp này không đẹp bằng miếu địa.

Hãm địa

Hãm địa: Là sao đứng không đúng chỗ của mình nên vô ích hoặc bất lợi cho cuộc sống con người thì gọi là hãm địa. Lẽ đương nhiên khi sao hãm địa rơi vào những cung chính mà các sao đó lại thuộc nhóm hung sát tinh thì sức phá hại của chúng tới số kiếp con người tàn bạo hơn nhiều khi những sao đó nằm đúng chỗ. Trên lá số được thể hiện sau tên sao và có chữ H.
Bình Hòa là sao có chữ B sau tên sao. Sao nào bình hòa thì tức là không tốt cũng không xấu. Mức độ ảnh hưởng của sao đó phụ thuộc việc nó kết hợp với các loại sao khác.

Giáp

Giáp là thuật ngữ tử vi chỉ một cung mà có các sao bộ đôi như Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, mỗi sao nằm một bên. Có giáp cung và giáp góc. Giáp cung là cung có bộ sao kèm hai bên, nhưng trên một hàng thẳng thí dụ cung Sửu giáp Tí và Dần. Giáp góc là giáp ở góc thí dụ các cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Giáp góc ít hiệu quả hơn giáp cung. Có tài liệu mà BinhGiaTrang.com đọc được nói rằng: Sao giáp có khi còn mạnh hơn cả sao toạ thủ, cũng như sao chiếu có khi mạnh hơn sao đồng cung. Chẳng hạn khi Mệnh giáp Không – Kiếp chắc chắn sẽ là người nghèo khổ cho dù Chính tinh thủ Mệnh có đắc địa, phù sinh cho bản Mệnh…

Về thiên can trong thiên can địa chi ngũ hành

Theo luận thuyết khái niệm tử vi, can có nghĩa là gốc. Đó là những gì thiên địa trao cho con người khi cất tiếng chào đời. Can là thứ đã được ấn định sẵn, không thêm cũng không thể bớt đi. Thiên can trong thiên can địa chi ngũ hành chính là 10 can (Thập can) tương ứng. Bao gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Dựa vào âm dương, thiên can được chia thành nửa can âm, nửa can dương:
– Theo can âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.
– Theo can dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.
Trên phương diện tương hợp:
– Đinh hợp Nhâm
– Mậu hợp Quý
– Bính hợp Tân
– Ất hợp Canh
– Giáp hợp Kỷ
Trên phương diện tương khắc:
– Giáp khắc Mậu
– Ất khắc Kỷ
– Bính khắc Canh
– Đinh khắc Tân
– Mậu khắc Nhâm
– Kỷ khắc Quý
– Canh khắc giáp
– Tân khắc Ất
– Nhâm khắc Bính
– Quý khắc Đinh
Quan hệ tương sinh tương khắc khi phối Thiên can với Ngũ hành
Theo ngũ hành, phương vị, bốn mùa:
– Giáp Ất: hành Mộc, hướng Đông, mùa xuân.
– Bính Đinh: hành Hỏa, hướng Nam, mùa hạ.
– Mậu Kỷ: hành Thổ, nằm ở trung tâm, tứ quý.
– Canh Tân: hành Kim, hướng Tây, mùa thu.
– Nhâm Quý: hành Thủy, hướng Bắc, mùa đông.

Về địa chi trong thiên can địa chi ngũ hành

Trong khái niệm tử vi, chi được hiểu là cành, là những thứ xung quanh con người. Đó là vùng đấng sinh ra, có cây trái, vật phú để nuôi nấng con người trưởng thành. Mỗi người có thể canh tác, sửa sang vùng đất ấy cho tốt đẹp hơn.
Địa chi trong thiên can địa chi ngũ hành là 12 con giáp theo tuổi. Được sắp xếp trật tự số từ 1 đến 12 (Thập Nhị chi). Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ứng với 12 giống vật: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo.

Trong âm dương, địa chi cũng được chia ra nửa âm và nửa dương:

– Địa chi âm: Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ, Mão.
– Địa chi dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.

Địa chi được chia thành 3 nhóm:

– Tứ sinh: Dần – Thân – Tỵ – Hợi.
– Tứ mộ: Thìn – Tuất – Sửu – Mùi.
– Tứ tuyệt: Tý – Ngọ – Mão – Dậu.
Địa chi phân theo tam hợp, nhị hợp và hành xung:
– Tam hợp: Dần – Ngọ – Tuất, Thân – Tý – Thìn, Hợi – Mão – Mùi, Sửu – Tỵ – Dậu.
– Nhị hợp: Tý – Sửu, Thìn – Dậu, Dần – Hợi, Tỵ – Thân, Mão – Tuất, Ngọ – Mùi.
– Hành xung: Tý – Ngọ, Mão – Dậu, Dần – Thân, Tỵ – Hợi, Thìn – Tuất, Sửu – Mùi.
Biểu hiện xung – hợp của 12 Địa chi
Địa chi phân theo ngũ hành, ngũ sắc, phương hướng:
– Tý thuộc Dương, hành Thủy, màu đen, hướng Bắc.
– Sửu thuộc Âm, hành Thổ, màu vàng, hướng Đông Bắc thiên Bắc.
– Dần thuộc Dương, hành Mộc, màu xanh, hướng Đông Bắc thiên Đông.
– Mão thuộc Âm, hành Mộc, màu xanh, hướng chính Đông.
– Thìn thuộc Dương, hành Thổ, màu đen, hướng Đông Nam thiên Đông.
– Tỵ thuộc Âm, hành Hỏa, màu đỏ, hướng Đông Nam thiên Nam.
– Ngọ thuộc Dương, hành Hỏa, màu đỏ, hướng chính Nam.
– Mùi thuộc Âm, hành Thổ, màu vàng, hướng Tây Nam thiên Nam.
– Thân thuộc Dương, hành Kim, màu trắng, hướng Tây Nam thiên Tây.
– Dậu thuộc Âm, hành Kim, màu trắng, hướng chính Tây.
– Tuất thuộc Dương, hành Thổ, màu vàng, hướng Tây Bắc thiên Tây.
– Hợi thuộc Âm, hành Thủy, màu đen, hướng Tây Bắc thiên Bắc.

Về ngũ hành trong thiên can địa chi ngũ hành

Ngũ hành là yếu tố thứ 3 trong thiên can địa chi ngũ hành. Trong tử vi, khái niệm ngũ hành có sau âm dương.
Đông phương lý học cho rằng, vạn vật trong vũ trụ được sinh ra từ 5 nhân tố của sự sống. Đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ:
  • Kim tượng trượng cho Vàng và tất cả những kim loại khác.
  • Mộc tượng trưng cho Gỗ và tất cả cỏ cây trong tự nhiên
  • Thủy tượng trưng cho Nước và những chất lỏng khác.
  • Hỏa tượng trưng cho Lửa và những hơi nóng, khí nóng.
  • Thổ tượng trưng cho Đất và những khoáng vật trong đất.
Mô tả biểu hiện tương sinh tương khắc của Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ
Ngũ hành có sự tương sinh, tương khắc lẫn nhau:
  • Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
  • Tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Cung

  • Bản cung (bản phương): là cung chủ sự, trong 12 cung Tử vi mỗi cung đều có thể là bản cung. Ví dụ như luận mệnh thì cung Mệnh là bản cung, luận về sự nghiệp cát hung thì cung quan lộc là bản cung, luận đại hạn thì đại hạn cung cần luận là bản cung.
  • Đối cung: đối diện với bản cung gọi là đối cung, tức là từ bản cung đếm thuận hoặc nghịch đến cung thứ 7.
  • Lân cung: là cung trước và sau bản cung 2 cung, gọi là lân cung. Có 1 số sao đôi có thể giáp 1 cung nào đó. Lân cung rất quan trọng.
  • Tứ chính: chỉ bản cung, đối cung, tam hợp, và lân cung.
  • Tam phương tứ chính: tam phương dùng để chỉ bản cung cùng 2 cung tam hợp, tức từ bản cung đếm thuận nghịch đến cung thứ 5, thêm đối cung tạo thành tứ chính. Khi luận các cung cát hung, chủ yếu nhìn vào các sao ở các cung số 1, 5, 7, 9 để xem các tổ hợp các hung như thế nào.
Tử vi đẩu số tam hợp phái cực kỳ quan trọng tam phương tứ chính, nhất là đối cung.

Tinh đẩu

Tinh đẩu là gì trong tử vi? Thuật ngữ tử vi cho người học tử vi online
  • Bắc đầu tinh gồm 7 sao: tham lang, cự môn, lộc tồn, văn khúc, liêm trinh, vũ khúc, phá quân.Bắc đẩu trợ tinh gồm có Dương Đà, Tả Hữu.
  • Nam đẩu chủ tinh: gồm 6 sao: thiên phủ, thiên lương, thiên cơ, thiên đồng, thiên tướng, thất sát.Nam đẩu trợ tinh có Hỏa Linh, Khôi Việt.
  • Trung thiên chủ tinh: có Tử vi, Thái dương, Thái âm.
  • Chính diệu (chính tinh): Gồm Tử vi, Thiên Cơ, Thái dương, Vũ khúc, Thiên Đồng, Liêm trinh, Thiên phủ, thái âm, tham lang, cự môn, thiên tướng, thiên lương, Thất sát, phá quân. Thêm Tả phù, hữu bật, văn xương, văn khúc, lộc tồn. Tất cả có 19 chính diệu.
  • Thiên diệu: dương, đà, hỏa, linh, khôi, việt. Tổng cộng có 6 thiên diệu.
  • Tạp diệu: trừ chính diệu và thiên diệu ra còn lại được gọi là tạp diệu.
  • Hóa diệu: chỉ tứ hóa: hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa, hóa Kỵ.
  • Song tinh: Tử Phủ, Phủ Tướng, nhật nguyệt, tả hữu, xương khúc, không kiếp, hỏa linh, dương đà, khôi việt… tổng cộng có 35 song tinh.
  • Tam cát tinh: hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa
  • Tứ hóa tinh: chỉ tứ hóa
  • Tứ sát tinh: Dương Đà, Hỏa Linh
  • Lục cát tinh: thiên khôi, thiên việt, tả phụ, hữu bật, văn xương, văn khúc.
  • Lục sát tinh: tứ sát tinh thêm thiên không, địa kiếp.
  • Thất sát tinh: lục sát tinh thêm hóa kỵ.
  • Hung tinh: Là những sao gây: tai nạn, bệnh tật, tán tài, buôn bán thua lỗ, tù tội, tang thương, loạn trí… Tóm lại là những đau khổ, bất hạnh lớn lao cho cuộc sống con người. Hung tinh bao gồm các sao được gọi là sát tinh, hình tinh, bại tinh…
    Hung tinh đắc địa có ý nghĩa tốt, nhưng vẫn còn tiềm ẩn cái xấu. Hung tinh hãm địa gieo nhiều tai hoạ, nhất là hung tinh khắc Mệnh hay khắc Can năm sinh. Hung tinh chỉ chịu lép vế, giảm sự tác oai tác quái khi gặp Khoa, Tuần – Triệt, Tài – Thọ, Quan Phúc.
  • Hung – Sát tinh ngộ chế: Hung tinh là bộ chính tinh THẤT SÁT – PHÁ QUÂN – THAM LANG, còn sát tinh gồm có: Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, Kiếp Sát, ngoài ra còn phải kể đến Thiên Hình, Hoá Kỵ, Lưu Hà…
    Gặp các hung sát tinh không có sao giải thì rất nguy hiểm. Nếu có sao giải mạnh, các hung sát tinh sẽ được hóa giải ác tính thành ra ngộ chế tức chế biến, cải trang lại, không còn nguy hiểm như ý nghĩa nguyên thủy nữa mà có khi còn tốt lên. Những sao cứu giải mạnh gồm Tuần – Triệt, Thiên Tài, Hoá Khoa, Quan Phúc.
  • Sát tinh: Là những sao gây ra tai họa lớn tới đời sống con người như: chấm dứt sự nghiệp, tài sản, gia đạo, thậm chí còn mất mạng… Được xem là sát tinh hạng nặng gồm: Địa Không – Địa Kiếp – Thiên Không – Kình Dương – Đà La – Kiếp Sát – Hỏa Tinh và Linh Tinh.
    Càng hội tụ nhiều sao sát tinh thì mức độ hoạ hại càng dễ xảy ra và xảy ra trên nhiều bình diện của cuộc sống. Đặc biệt, càng nhiều sát tinh hãm địa tụ tập thì những thiệt hại, những tai biến về gia đạo, tài sản, công danh, tính mạng … càng xảy ra nhanh chóng và nặng nề, bất khả kháng.
    Sự hội tụ của các sát tinh ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất về những tai họa do sát tinh gây ra. Cho dù các sát tinh có đắc địa thì tai hoạ vẫn ẩn nấp, liền kề, có chăng chỉ được hưởng sự bộc phát trong một thời gian ngắn. Tất cả các sao khác như: hình tinh, bại tinh, hao tinh… đều do các sao sát tinh góp phần tăng cường hiệu lực.
  • Lục sát tinh: Gồm sáu sao: Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Ngoài ra các sao Kiếp Sát (còn gọi là Địa Kiếp thứ 2), Lưu Hà, Phá Toái, Thiên Hình, Hoá Kỵ, Thiên Không, Thương Sứ, La Võng cũng được kể như sát tinh vì đặc tính sát  hại, phá phách của chúng.
  • Hình tinh: Là những sao ảnh hưởng đến sự tự do của cá nhân, hoặc uy tín và danh dự của cá nhân, thậm chí bị kiện tụng, tù đày… Hình tinh được xem là các sao: Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, Thiên La, Địa Võng
  • Bại tinh, hao tinh: Là những sao làm cho con người bị lụn bại, hao tán về tài sản, sự nghiệp, thậm chí về cơ thể. Được coi là hao tinh, bại tinh là những sao: Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư.
  • Ám tinh: Là những sao gây trở ngại, trục trặc cho con người về công danh, sự nghiệp, hạnh phúc gia đạo, uy tín và danh dự của cá nhân. Ám tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không, Phá Quân, Thái Tuế, Tử phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ.
  • Văn tinh: Là những sao chủ về sự học hành, trình độ, bằng cấp, hợp với “quan văn”, như: Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa, Văn xương, Văn Khúc, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Tấu Thư. Càng hội tụ nhiều văn tinh ở Mệnh (Thân) càng chỉ tài năng, học vấn uyên thâm và “quyền uy” của đương số.
  • Võ tinh: Là những sao chủ sự uy quyền, võ nghệ, xa hơn là sự mạnh mẽ, cứng rắn về tính cách của đương số. Đựơc xem là võ tinh gồm những sao như: Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng, Hóa Quyền, Tướng Quân, Quốc Ấn, Thiên Mã, Thanh Long, Thiên Hình…
  • Dâm tinh: Là những sao ảnh hưởng đến đời sống sinh lý của con người, nhẹ thì là người sống lãng mạn, nặng thì đa dâm, sa đọa, đĩ điếm, thậm chí còn mất danh dự, thiệt mạng vì tính trăng hoa, dâm loạn.
    Những sao tình dục (dâm tinh) rất nhiều, chiếm tỉ lệ 20/111 sao trong hệ thống các sao của Tử Vi (Tử Vi Việt Nam), nhưng tiêu biểu nhất cho sự dâm tính gồm các sao: Tham Lang, Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, Thai, Mộ, Liêm Trinh (hãm địa), Thái Âm (hãm địa), Hoa Cái ….
    Nhìn chung, về cơ bản các Chính tinh khi hãm địa đều có thể được coi là người có nhiều ham muốn về tình dục, tuy nhiên sự ham muốn đó chỉ ở mức bình thường, không nặng nề như những sao kể trên.
  • Lộc tinh: Là những sao chủ về tài sản, tiền bạc mà đương số sẽ được hưởng hoặc không được hưởng, hoặc sự kiến tạo ra tài sản, tiền bạc khó hay dễ, nhiều hay ít… Được xem là lộc tinh gồm các sao: Hóa Lộc, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Thiên Phủ. Những lộc tinh chỉ đem đến tài lộc cho đương số khi đắc địa và không gặp sát tinh, hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
  • Phúc tinh: Là những sao chủ về sự hưởng ít hay nhiều? Được hưởng hay không được hưởng phúc đức của tổ nghiệp, của số phận? Được coi là phúc tinh gồm các sao như: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Phúc, Quý Nhân, Thiên Quan, Giải Thần, Thiên Giải. Cũng như các tinh đẩu khác, Phúc tinh chỉ thật sự hữu ích, đem lại may mắn về phúc đức, tài lộc khi đắc địa và không gặp sát tinh hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
  • Trợ tinh: Còn gọi là Hộ tinh. Là những sao khi đi cùng sao xấu sẽ làm tăng ác tính của sao xấu, đi với sao tốt sẽ làm đẹp thêm những điều tốt của sao tốt. Được xem là trợ tinh gồm các sao như: Thiên Tài, Tả Phù, Hữu Bật.
  • Sao thiện căn: Là những sao chủ về thiện tâm, vọng đạo, đó là các sao: Thiên Lương, Thiên Đồng,Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Hóa Khoa, Tứ Đức.
  • Thiên La – Địa Võng: Thiên La ở Thìn, Địa Võng ở Tuất được gọi là lưới trời. Mệnh cư ở đây ví như số mệnh bị lưới Trời bó chặt lại, không thể vùng vẫy được. Nhưng có sách nói chỉ khi nào có Đà La ở hai cung Thìn, Tuất và Mệnh cũng ở đó thì mới bị ảnh hưởng của La – Võng. Khi Mệnh ở La – Võng rất cần có Kình hội họp, nhất là Kình đồng cung để phá thế La – Võng.
    Trong 14 chính tinh thì Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là bộ sao mềm dẻo, ôn hòa nên không ngại lắm khi Mệnh ở La – Võng, còn các chính tinh khác nên tránh xa, nhất là Tử, Phủ, Sát, Phá, Tham.
  • Chính diệu: Là các chính tinh trong hệ thống các sao của khoa Tử Vi. Tại sao lại gọi 14 sao là chính tinh (chính diệu) bởi theo quan điểm của Tử Vi thì đó là 14 sao quan trọng, quyết định số kiếp của con người. Các cung có sao chính tinh thì gọi là chính diệu tọa thủ.
  • Vô chính diệu: Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh tọa thủ. Cung nào không có chính tinh thì gọi cung đó là cung vô chính diệu, chẳng hạn: Mệnh vô chính diệu, Tài vô chính diệu… Những cung vô chính diệu rất cần có sát tinh đắc địa như Không – Kiếp đồng cung, hoặc Tam Không, Tứ Không hội chiếu mới mong số kiếp được suôn sẻ, khấm khá lên được.
  • Tam không – Tứ không: Đó là những sao: Địa Không, Thiên Không, Tuần trung không vong và Triệt lộ không vong. Đây là bộ sao có ảnh hưởng rất mạnh tới số phận của con người, làm đảo lộn giá trị của các sao đồng cung hoặc hợp chiếu. Vì vậy, bộ sao này cần được cẩn trọng khi xem lá số, nhất là 2 sao Triệt lộ không vong (Triệt) và Tuần trung không vong (Tuần).
    Địa Không – Địa Kiếp là 2 phụ tinh nhưng ảnh hưởng tới số phận con người lại ngang ngửa với chính tinh, thậm chí còn làm cho chính tinh trở nên mờ nhạt khi Không – Kiếp hãm địa. Nhắc tới lũ sát tinh này, mọi người đều e ngại, thế nhưng khi có Triệt tại bản cung thì khụôg sợ tai họa do Không – Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng sức cản phá yếu hơn. Mệnh Thân có Không – Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt – Tuần thì không sợ tai nguy. Tuỳ theo sự hội tụ của các sao đó mà gọi là đắc Nhị không, Tam không hay Tứ không. Sự hội tụ của các sao này rất cần thiết cho các cung không có chính tinh toạ thủ.
  • Tứ Mộ, tứ Chính, tứ Sinh: Đây là thuật ngữ dùng để chỉ khi Mệnh nằm tại 1 cung nào đó trên lá số.
  • Mệnh ở tứ Sinh gồm: Dần, Thân, Tỵ, Hợi Khi Mệnh an tại tứ Sinh là người có lòng tự hào, tính khoe khoang, thích được đề cao, có sức khỏe, ít bệnh tật mặc dù thường có tầm vóc nhỏ.
  • Mệnh ở tứ Chính gồm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Khi Mệnh an tại tứ Chính là người cứng rắn, cương trực, khảng khái và khó ai làm thay đổi được quan điểm. Người có Mệnh an tại tứ Chính thường hay được hưởng Đế Vượng nên có sức khỏe tốt.
  • Mệnh ở tứ Mộ gồm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Khi Mệnh an tại tứ Mộ thì thường là người mềm dẻo, biết thân phận, không muốn phiền nhiễu ai, hay bị bệnh và sức khỏe yếu. Trong các cung Sinh, Chính, Mộ đó đều có cung Âm, cung Dương. Các cung Dương thường kiên quyết, cẩn thận và chu đáo. Các cung Âm thì thường rộng rãi, bao dung và hòa hợp hơn.
  • Tọa thủ – Đồng cung: Chính tinh đóng ở một cung cụ thể thì gọi là tọa thủ. Hai chính tinh cùng đóng tại một cung thì gọi là đồng cung. Chẳng hạn khi Liêm Trinh đóng tại cung Mệnh thì nói Liêm Trinh tọa thủ tại cung Mệnh, nhưng nếu tại cung Mệnh có 2 chính tinh là Liêm Trinh và Tham Lang cùng đóng ở đó thì gọi là Liêm – Tham đồng cung tại Mệnh…
    Sự ảnh hưởng của các sao đồng cung tới số mệnh con người sẽ không như nhau mà phải căn cứ vào mối quan hệ Âm Dương – Ngũ hành giữa cung, chính tinh và bản Mệnh như thế nào. Đặc biệt trong trường hợp sao đó đi cùng với các sao khác để tạo thành bộ, thành cách. Tuy vậy, khi coi lá số, đạo hữu chú ý cho Bình An không nhất thiết chỉ chính tinh mới dùng các thuật ngữ này, mà trong nhiều trường hợp người coi tử vi vẫn thường dùng thuật ngữ đồng cung để nói về các sao (cả chính tinh, phụ tinh) khi cùng đóng trong một cung.
    Độc thủ: Là một sao duy nhất đóng tại cung chính, không có sao khác để tạo thành đôi, thành cách (cục).
  • Lâm – Nhập: Hai thuật ngữ trên đều mang một nghĩa là sao đó đóng ở 1/12 cung của lá số. Sự khác nhau chỉ ở chỗ: Sao tốt đóng ở đâu thì gọi là lâm, sao xấu đóng ở đâu thì gọi là nhập. Tuy nhiên, thuật ngữ này ít được dùng khi coi lá số.
  • Hội họp: Thuật ngữ này dùng để chỉ các sao cùng chiếu về cung chính ở các thế xung chiếu, tam hợp chiếu, nhị hợp, giáp… (Duy cụ Thiên Lương lại không tính các sao ở cung xung chiếu vì cụ cho rằng cung xung chiếu là cung của “đối thủ” nên không thể tính là sao “hội họp” được.) Sự hội họp của các sao càng có giá trị quyết định tới số phận của đương số khi chúng tạo thành cách cục.
    Trên lý thuyết thì các sao ở tam hợp chiếu sẽ mạnh hơn các sao nhị hợp, càng mạnh hơn các sao giáp nhưng thực tế khi các sao hội họp tạo thành cách thì sự phân biệt đó trở thành vô nghĩa.

Triền thứ:

Các khải niệm để quý đạo hữu hiểu. Nhưng khi luận giải lá số tử vi không nên mang những thuật ngữ này ra áp dụng một cách máy móc với người xem. Chúng ta nên nói những điều dễ hiểu để người nghe có được giải đáp trong lòng mình thì sẽ hay hơn.

Thiên la địa võng là gì trong thuật ngữ tử vi? Tự học tử vi online
  • Thiên la địa võng: trong 12 cung thì cung Thìn là Thiên la, Tuất là địa võng. Còn được gọi là Khôi Cương, Thìn là Thiên cương, Tuất là Hà khôi.
  • Lôi môn: chính là cung mão trên mệnh bàn
  • Thiên môn: là cung Hợi trên mệnh bàn
  • Địa môn: là cung tị trên mệnh bàn
  • Nhân môn: là cung Dần trên mệnh bàn
  • Quỷ môn: là cung Thân trên mệnh bàn
  • Trúc la tam hạn: tiểu hạn hoặc lưu niên gặp tam hợp cung có Thất sát, Phá quân, Tham lang. Khi gặp 3 cung này phải hết sức chú ý, bởi sẽ có sự cải biến vận mệnh. Nếu cư ở Miếu vượng gặp cát tinh, ắt sẽ có sự chuyển biến khai sáng, có thể tốt lên. Nếu rơi vào hãm địa mà gặp sát tinh hoặc hóa Kỵ xung phá sẽ gặp muôn vàng khó khăn.
  • Ngộ, phùng, kiến, tọa, hội, gia: đa số chỉ về sự đồng cung hoặc ở tam phương tứ chính.
  • Thủ và đồng: các cung gặp 1 sao gọi là thủ, mà nhiều sao gọi là đồng.
  • Giai và tịnh: cát tinh đồng cung gọi là giai, hung tinh đồng cung gọi là tịnh.
  • Xung và chiếu: hung tinh ở đối cung gọi là xung, cát tinh ở đối cung gọi là chiếu.
  • Miếu vượng: là lúc sao sáng nhất, những sao cát có thể phát huy hết tác dụng và sao hung thì không hung.
  • Bình hòa: độ sáng của sao bình thường, cát tinh thì cát, hung tinh thì hung.
  • Lạc hãm: độ sáng của sao không có, cát tinh thì bất cát, hung tinh thì tối hung
  • Đại vận: hay còn gọi là đại hạn, chủ 10 năm.
  • Tiểu hạn: là vận thế của 1 năm
  • Lưu niên: còn gọi là Thái Tuế, chủ vận thế của năm đó, còn Đẩu quân chủ vận thế của tháng đó.
  • Thiên bàn, địa bàn, nhân bàn: Thiên bàn chỉ bản Mệnh Bàn, địa bàn chỉ đại vận bàn,nhân bàn chỉ lưu niên bàn cùng tiểu hạn bàn.
  • Lục dương cung: chỉ mệnh quan,cung phu thê,cung tài bạch,cung thiên di, cung quan lộc,cung phúc đức.
  • Lục âm cung: chỉ cung huynh đệ, cung tử tức, cung tật ách, cung nô bộc, cung điền trạch, cung phụ mẫu.
  • Cung lục thân: mệnh, Phụ mẫu, Phu thê, huynh đệ, tử tức, nô bộc.
  • Tứ bại chi địa (tứ bại): Tí Ngọ Mão Dậu, hay còn gọi là đất đào hoa.
  • Tứ mã chi địa (tứ mã): Dần Thân Tị Hợi, hay còn gọi là tứ sinh
  • Tứ mộ chi địa (tứ mộ): Thìn Tuất Sửu Mùi, còn gọi là tứ khố
  • Hiệp và hiếp: cát tinh tam hợp hội chiếu gọi là hiệp, hung tinh tam hợp hội chiếu gọi là hiếp.
  • Phụ và giáp: song cát tinh ở 2 lân cung gọi là phụ, song hung tinh ở 2 lân cung gọi là giáp.
  • Tọa và cứ: cát tinh lâm bản cung gọi là tọa, hung tinh lâm bản cung gọi là cứ.
  • Củng: cát tinh ở tam phương tứ chính hội chiếu gọi là củng.

Sẽ còn update thêm….

Tổng kết

Trên đây là những thuật ngữ trong tử vi. Sẽ phục vụ cho các bạn đang tìm hiểu về tử vi hoặc tự học tử vi. Bình An hy vọng đã giúp quý đạo hữu có câu trả lời về các thuật ngữ trong tử vi mà mình còn chưa thực sự hiểu. Nếu bài viết này có điều gì sai sót mong được quý đạo hữu chỉ bảo thêm. Nếu có điều gì chưa hiểu về tử vi quý đạo hữu vui lòng comment phía dưới chúng ta cùng nghiệm lý. Chúc quý đạo hữu luôn tinh tấn trên con đường học tử vi của mình.

Mời quý đạo hữu tìm hiểu bài tiếp theo: Âm Dương Ngũ Hành, Cách tính bản mệnh bằng tay

Bình An: Người tìm hiểu về tử vi việt nam